Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

“Ma chiến” gặm nát đời anh

Ông Thái Mai Toản (đội mũ) ngồi ăn cơm cùng gia đình.

Gần 40 năm, người dân các xã xung quanh thị trấn Phủ Diễn (huyện Diễn Châu, Nghệ An) không còn lạ với hình ảnh ấy. Ông là Thái Mai Toản - một lính chiến trở về từ ngục tù Phú Quốc.


Chúng tôi tìm vào ngôi “nhà” xập xệ của ông ở cuối xóm 4, xã Diễn Thành, trong “nhà” chỉ có chiếc giường cũng xập xệ với mấy bộ quân phục cũ mèm. Thấy người lạ vào “nhà”, gia chủ ngồi co rúm trong góc nhìn ra. Bỗng nhanh như sóc, ông rút khẩu súng lục bằng nhựa chĩa thẳng vào chúng tôi và... Pằng! pằng! pằng...

Đúng lúc ấy anh Thái Mai Tư (nhà sát cạnh) xuất hiện: “Họ là khách của nhà mình mà anh”. Được em trai trấn an, ông bước tới cười ngây ngô và nắm tay chúng tôi rất chặt. Mắt sáng, thông minh, trán cao, mũi dọc dừa, những nét đẹp trẻ trai vẫn đọng trên gương mặt đã lâu không còn trí nhớ nữa. Giờ ông lại ngồi vào chỗ cũ để lẩm bẩm với mình, khách cố nghe cũng chỉ nhận ra mấy địa danh “Biên Hòa”, “Đồng Nai”, “Đường 9 - Nam Lào”..., Còn lại là những câu vô nghĩa, ngay cả tên của mình ông cũng không còn nhớ.

Dò đường về quê

Nhìn anh trai ngoài 60 tuổi mà như trẻ nít, anh Thái Mai Tư ngậm ngùi: “Anh Toản sinh năm 1951, trước tôi 2 năm. Thời trẻ anh nổi tiếng thông minh, học giỏi nhất làng, chữ viết đẹp. Năm 1970 anh lên đường nhập ngũ, ngày anh có mặt trên chiến trường đánh giặc, tôi vẫn còn đi học, sau đó tôi cũng vào Nam chiến đấu và mất tin anh. Sau ngày nước nhà thống nhất, tôi giải ngũ về quê vẫn không có tin tức về anh. Không ai nói ra, nhưng cả nhà đều nghĩ anh đã hy sinh...”.

Bỗng một ngày cuối năm 1976, dân xã Diễn Thành đang làm ruộng, thấy anh bộ đội quân phục cũ sờn, vai mang balô, chân dép caosu, chân bước miệng ú ớ hỏi đường về nhà mẹ đẻ là bà Trương Thị Kiểm. Sau 6 năm bặt vô âm tín, cả nhà mừng khôn tả vì không dám tin anh còn sống trở về, với chiếc balô chỉ có bộ quân phục cũ sờn và không kèm một thứ giấy tờ gì tùy thân. Rồi mọi người nghe anh nói những lời ngây ngô không hiểu nổi thì cả nhà bỗng khóc òa khi biết anh đã mất trí nhớ.

Ngày anh trở về quê, bấy giờ người anh cả cũng lính chiến trận đang ở trong Nam, các em đã yên bề gia thất, anh chỉ biết dựa vào bố mẹ là ông Thái Bá Viên, bà Trương Thị Kiểm đã già yếu. Trong căn nhà lè tè bên bờ sông Dinh, cặp vợ chồng già bươn chải nuôi nhau và cáng đáng nuôi người con chỉ sống với “con ma chiến trận”.

Cứ tưởng khi về sống giữa gia đình, người thân, trí nhớ của anh sẽ từng bước được phục hồi, nào ngờ bệnh tình càng ngày càng nặng. Lúc đang ngủ, ngồi ăn cơm cùng gia đình, hoặc một mình lang thang ngoài đường, hễ nghe tiếng máy bay ngang qua, hoặc tiếng động mạnh từ đâu vọng tới, anh bật dậy mặt tái mét, vội vàng chui xuống gầm giường, nép vào tường rào và giương súng nhựa... Chiến đấu. “Ma chiến” xúi anh đục mấy bức tường nhà thủng nhiều chỗ để làm... Lỗ châu mai, và anh giương “khẩu” điếu cày làm súng chĩa ra ngoài... Pằng, pằng, pằng!

Ai dỗ dành kiểu gì cũng không chịu mặc quần áo mới, anh chỉ thích “diện” quân phục cũ sờn và đi dép caosu. Ăn cơm, anh thường xong trước mọi người, rồi đứng dậy mang bát của mình ra giếng rửa sạch sẽ úp lên giàn. Trừ khi ngủ, thời gian còn lại anh không rời chiếc mũ kê-pi trên đầu dùng làm nơi giấu khẩu súng nhựa trong đó. Anh đi lang thang để sống với thế giới riêng của mình, mọi việc cơm nước, tắm giặt, thuốc thang khi trái gió trở trời... Đều do cha mẹ già lo liệu.

Rồi ông Viên bà Kiểm lần lượt qua đời, phần việc chăm sóc anh do vợ chồng Tư-Liên đảm trách. Nhà vợ chồng Tư-Liên ở phía trong xóm, bao lần dụ dỗ anh về ở cùng nhà để tiện việc chăm sóc, nhưng anh không chịu rời ngôi “nhà” xập xệ, lẻ loi nơi bãi sông, bãi biển đã gắn bó với tuổi thơ mình. Cực bất đắc dĩ, chị Liên bàn với chồng xô đổ ngôi “nhà” ấy, không còn chỗ đi về thì may ra anh mới chịu vào ở trong làng cùng gia đình em. Trước khi bắt tay làm cái việc vô cùng khó là phải xô đổ cái tổ không còn hơi ấm của anh, vợ chồng Tư-Liên dâng hương cáo với hương hồn bố mẹ mà nước mắt lưng tròng.

Sau một ngày lang thang, tối ấy anh trở về thấy ngôi “nhà” chỉ còn đống đổ nát, anh ôm đầu òa khóc như trẻ bị đòn: “Bố mẹ ơi, trời đất ơi, nhà đổ hết rồi”. Chị Liên tiếp: May là đêm ấy trời trút mưa to nên anh mới chịu vào căn nhà mới đã được vợ chồng Tư-Liên dựng sẵn bên cạnh”. Có lần anh lang thang 2-3 ngày không về, cả nhà chia nhau đi tìm khắp các xã nhưng không thấy đâu. Bỗng Đài PTTH huyện Diễn Châu thông báo, ở khu vực Cầu Bùng (xã Diễn Kỷ) có một người chết ven đường, qua miêu tả hình dạng nghe giông giống anh, thế là vợ chồng Tư-Liên thần hồn nát thần tính đèo nhau bằng xe đạp, vượt khoảng 10 cây số đến nhận, nhưng người xấu số không phải là anh, trưa ấy hai vợ chồng mới nuốt nổi cơm.

Ông Toản trong căn nhà của mình.

Lá rách ít đùm lá rách nhiều


Sau chiến tranh mọi người đều phải bươn chải mưu sinh, anh Tư cũng không có nhiều thì giờ để tìm hiểu nguyên do khiến anh mình dở điên dở dại, gia đình mặc nhiên chấp nhận hậu quả của cuộc chiến đã trút xuống cuộc đời anh. Anh Toản trở về cuối năm 1976, ngày ấy anh Tư cũng dò hỏi kiếm tìm đơn vị cũ của anh để xin xác nhận, làm chế độ ưu đãi cho anh, nhưng kết quả là đáy bể mò kim.

Chắp nối một ít thông tin thu thập được, anh Tư đoán định anh mình cùng đơn vị từng có mặt ở chiến trường khu 9, còn từ khi nhập ngũ cho đến khi anh tìm trúng đường về quê, làm gì, ở đơn vị nào thì tịt. Nhưng rồi may mắn đã đến với anh Tư. Ông Cao Khải Hoàn trú xã Diễn Ngọc - một cựu chiến binh từng bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Quốc - đã xác nhận anh Toản cũng từng bị địch bắt giam, tra tấn tại nhà tù Phú Quốc, và trên cơ sở xác nhận của ông Hoàn, anh Tư đã làm chế độ bệnh binh 3/3 cho anh trai.

Chúng tôi tìm gặp ông Cao Khải Hoàn để biết thêm thông tin về một con người, một số phận mà đến nay “con ma chiến” vẫn chưa chịu buông tha. Thì ra ông Hoàn và anh Toản vốn ở cùng làng, ông Hoàn hơn anh Toản 5 tuổi. Ông Hoàn nhập ngũ năm 1965, năm 1969 cùng đơn vị chiến đấu ở Đông Nam Bộ ông bị rơi vào tay giặc, bị giam giữ qua mấy nhà tù, cuối cùng địch đày ông ra đảo Phú Quốc cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trong thời gian ở tù ngoài Phú Quốc, tình cờ ông gặp đồng hương Thái Mai Toản. Hai người bị giam ở 2 phòng gần nhau, hằng ngày xuống nhà ăn hoặc ra sân tập thể dục vẫn gặp nhau, từ ngày đó đã thấy anh Toản quên quên, nhớ nhớ không bình thường nữa. Theo ông Hoàn, rất có thể trước khi bị địch bắt anh Toản đã bị thương ở đầu, sau đó vào tù lại bị tra tấn nên bị mất hết trí nhớ.

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tàu ra đón anh em tù nhân trở về đất liền, từ đó ông Hoàn không gặp lại anh Toản. Mãi hơn 10 năm sau ngày trở về địa phương, tình cờ ông Hoàn gặp lại anh Toản đang thẫn thờ ngồi trên bãi biển, ông Hoàn choàng ôm người bạn đồng hương hỏi có nhận ra ai không, nhưng anh Toản không còn nhận ra ai nữa. Khi nghe tin anh Tư đang làm thủ tục để anh trai mình được hưởng chế độ, ông Hoàn tìm đến nhà cung cấp những thông tin cần thiết, và xác nhận việc cựu binh Thái Mai Toản từng bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Quốc.

Trưa, chúng tôi ở lại dùng cơm cùng gia đình vợ chồng Tư-Liên. Đang quây quần chuyện trò rôm rả bên mâm cơm, bỗng có tiếng máy bay tuyến Hà Nội-TP.Hồ Chí Minh ngang qua, anh Toản vội buông bát đũa, mặt thất thần liền chui xuống dưới gầm giường sát cạnh, vợ chồng Tư-Liên phải dỗ mãi anh mới chịu bò ra để tiếp tục ăn cơm. Tận mắt chứng kiến cảnh “ma chiến” hành hạ anh, chúng tôi không ghìm được nước mắt. “Tội lắm các anh ơi” - anh Tư nghẹn ngào.

“Chiến tranh đã qua gần 40 năm, nhưng anh tôi vẫn chưa thoát khỏi ám ảnh của đạn bom, của tiếng máy bay gầm rú. Giờ gia đình chỉ có một nguyện vọng là được các cấp, các ngành chức năng tạo điều kiện để giám định lại tỉ lệ thương tật cho anh, từ đó Nhà nước có cơ sở đãi ngộ xứng đáng đối với cống hiến hy sinh của anh. Như các anh đã thấy, anh tôi không còn khả năng lao động, không vợ con, không làm chủ được bản thân, không tự lo được cho mình... ”.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét